Muối Của Đất

Teaching Legacy Letter
*First Published: 2009
*Last Updated: tháng 2 năm 2026
14 min read
“Các con là muối của đất” (Ma-thi-ơ 5:13). Trong tuyên bố này, Chúa Giê- xu không chỉ phán với môn đồ của Ngài, mà còn phán với tất cả chúng ta là những người nhận biết được thẩm quyền trong lời dạy của Chúa. Chúa Giê-xu so sánh chức năng của chúng ta trên đất với chức năng của muối. Ý Ngài trở nên rõ ràng khi chúng ta xem xét hai công dụng quen thuộc của muối liên quan đến thực phẩm: muối tạo nên hương vị cho thức ăn và muối giúp cho thức ăn không bị hư hỏng.
Muối Tạo Nên Hương Vị
Là Cơ Đốc nhân, chúng ta có chức năng giống như muối, nghĩa là đem lại hương vị cho đất. Đức Chúa Trời vui hưởng hương vị này. Thức ăn dở trở nên ngon và ăn được khi chúng ta nêm thêm muối. Gióp đặt câu hỏi tu từ này:
“Thức ăn lạt lẽo làm sao không thêm muối?” (Gióp 6:6).
Sự có mặt của muối tạo nên sự khác biệt, khiến chúng ta tận hưởng những thức ăn mà nếu không có muối chúng ta sẽ không ăn.
Sự hiện diện của chúng ta khiến cho đất được Đức Chúa Trời chấp nhận và nhận được sự thương xót của Ngài. Bởi vì chúng ta hiện diện tại đây trên đất này, nên Đức Chúa Trời tiếp tục đối đãi với thế gian bằng ân điển và lòng thương xót hơn là bằng sự thịnh nộ và phán xét. Sự hiện diện của chúng ta tạo nên sự khác biệt.
Nguyên tắc này được minh họa một cách sống động trong lời cầu thay của Áp-ra-ham cho Sô-đôm, được ghi lại trong Sáng-thế Ký 18:16–33. Chúa phán với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ đến Sô-đôm để xem thử sự gian ác của thành đã đến mức phải bị đoán phạt hay chưa. Áp-ra-ham sau đó bước đi với Chúa trong đường lối của Ngài và đưa ra những lý lẽ tranh luận với Chúa về tình hình của thành Sô-đôm.
Nguyên Tắc Phán Xét
Trước tiên Áp-ra-ham thiết lập một nguyên tắc làm nền tảng cho những gì tiếp theo sau, nguyên tắc đó là: Đức Chúa Trời không bao giờ khiến sự đoán phạt vốn dành cho kẻ ác đến trên người công chính. “Chúa sẽ tiêu diệt cả người công chính lẫn người gian ác sao?” Áp-ra- ham hỏi Đức Chúa Trời (câu 23). “Không bao giờ Chúa làm như vậy! Chẳng lẽ Chúa tiêu diệt người công chính chung với kẻ gian ác, xem người công chính cũng như kẻ gian ác sao? Không bao giờ Chúa làm như vậy! Đấng phán xét toàn thế gian lại không thực thi công lý sao?” (câu 25).
Chúa phán rõ ràng trong cuộc trò chuyện tiếp sau đó với Áp-ra-ham rằng Ngài chấp nhận nguyên tắc mà ông đã nêu. Điều quan trọng là tất cả những tín đồ cần hiểu điều này! Nếu chúng ta được xưng công chính bởi đức tin trong Đấng Christ và nếu chúng ta đang sống đời sống thực sự bày tỏ đức tin của chúng ta, thì Chúa sẽ không bao giờ khiến sự đoán phạt dành cho kẻ ác đến trên chúng ta.
Hai Nhân Tố Xác Định
Không may thay, Cơ Đốc nhân thường không hiểu điều này. Vì sao? Bởi vì họ không phân biệt được hai trường hợp mà bề ngoài trông có vẻ như nhau, nhưng thực ra hoàn toàn khác nhau về mặt bản chất và nguyên nhân. Một mặt, có sự bắt bớ vì cớ sự công chính. Mặt khác, có sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên kẻ ác.
Sự khác biệt giữa hai trường hợp này được nêu rõ bằng những công bố trái ngược nhau sau đây. Sự bắt bớ đến trên người công chính, và sự bắt bớ đến bởi kẻ ác. Nhưng sự đoán phạt đến trên kẻ ác, và sự đoán phạt đến bởi Đức Chúa Trời, là Đấng công chính. Do đó, sự bắt bớ đối với sự công chính và sự đoán phạt đối với sự gian ác là hai điều trái ngược nhau về nguồn gốc, về mục đích và về kết quả.
Kinh Thánh cảnh báo rõ ràng rằng Cơ Đốc nhân phải chịu sự bắt bớ. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-xu phán với môn đồ của Ngài rằng:
“Phước cho những người chịu bắt bớ vì sự công chính, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ! Phước cho các con khi vì Ta mà các con bị mọi người nhục mạ, bắt bớ, vu cáo đủ mọi điều xấu.” (Ma-thi-ơ 5:10–11).
Phao-lô viết điều tương tự gửi cho Ti-mô-thê:
“Thật, tất cả những người muốn sống cuộc đời tin kính trong Đấng Christ Giê-xu đều sẽ bị bắt bớ.” (II Ti-mô-thê 3:12).
Do đó, Cơ Đốc nhân phải chuẩn bị để chịu sự bắt bớ vì đức tin và vì cách họ sống, và thậm chí họ còn phải kể đến điều đó như là một đặc ân.
Cũng vì lẽ ấy, sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên kẻ ác không bao giờ đến trên Cơ Đốc nhân. Nguyên tắc này được công bố nhiều lần trong Kinh Thánh. Trong I Cô-rinh-tô 11:32 Phao- lô viết cho những người đồng đức tin, ông nói rằng, “Nhưng khi Chúa phán xét, Ngài sửa phạt chúng ta [Cơ Đốc nhân] để chúng ta không bị kết án chung với thế gian.” Điều này chứng tỏ rằng có sự khác biệt trong cách xử lý của Đức Chúa Trời đối với tín đồ và đối với thế gian. Là tín đồ, chúng ta biết rằng mình có thể kinh nghiệm sự sửa phạt của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta đầu phục sự sửa phạt của Chúa và sửa lại đời sống mình cho đúng, thì chúng ta không phải chịu sự phán xét sẽ đến trên kẻ không tin hoặc thế gian nói chung. Mục đích cuối cùng của sự sửa phạt mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta – những tín đồ, là để bảo vệ chúng ta khỏi sự đoán phạt của Ngài trên những kẻ vô tín.
Xuất Ai Cập Ký chương 7 đến chương 12 ghi lại làm thế nào Đức Chúa Trời đã mang đến mười tai vạ đoán phạt trên dân Ai Cập với mức độ ngày càng nghiêm trọng vì họ đã khước từ không lắng nghe lời của tiên tri Ngài từ Môi-se và A-rôn. Trải suốt những tai vạ này, dân sự của Đức Chúa Trời là dân Y-sơ-ra-ên, dù đang cư ngụ tại Ai Cập, không một tai vạ nào trong mười tai vạ ấy đến trên họ. Lý do của việc này được nêu một cách sống động trong Xuất Ai Cập Ký 11:7:
“Trái lại, trong dân Y-sơ-ra-ên, ngay đến chó cũng sẽ chẳng sủa người hoặc súc vật, để các người biết rằng Đức Giê-hô-va phân biệt dân Y-sơ-ra-ên với dân Ai Cập như thế nào.”
Sự đoán phạt không đến trên dân Y-sơ-ra-ên bởi vì Chúa “phân biệt” giữa dân của Ngài và dân Ai Cập. Thậm chí cả những con chó của Ai Cập cũng phải nhận biết sự phân biệt đó! Và sự phân biệt này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.
Bao Nhiêu Là Đủ?
Tiếp tục cuộc đối thoại với Chúa về Sô-đôm, Áp-ra-ham cố gắng xác định con số tối thiểu về số người công chính cần thiết để cứu cả thành khỏi sự đoán phạt. Ông bắt đầu với con số năm mươi. Rồi thì, vừa kính sợ vừa kiên trì một cách đáng ngạc nhiên, Áp-ra-ham giảm con số này xuống đến mười. Cuối cùng, Chúa đảm bảo với Áp-ra-ham rằng nếu Ngài tìm thấy chỉ mười người công chính tại Sô-đôm, Ngài sẽ tha cho cả thành vì cớ mười người ấy.
Dân số của thành Sô-đôm là bao nhiêu? Khó mà đưa ra một ước tính chính xác. Tuy nhiên, số liệu có sẵn về dân số của một vài thành phố Palestine cổ đại có thể cung ứng một tiêu chuẩn so sánh. Xem xét những thành phố này, chúng ta có thể nói rằng dân số của Sô-đôm trong thời Áp-ra-ham có thể không dưới mười ngàn người.
Đức Chúa Trời đảm bảo với Áp-ra-ham rằng mười người công bình bằng chính sự hiện diện của họ có thể cứu cả một thành phố với ít nhất mười ngàn dân. Điều này đưa ra tỷ lệ một phần ngàn. Tỷ lệ tương tự “một phần ngàn” cũng được nêu ra trong Gióp 33:23 và trong Truyền đạo 7:28, và cả hai phân đoạn này đều cho rằng một trong một ngàn người, đó chính là người nổi trội về sự công chính, trong khi tất cả những người còn lại đều ở dưới mức tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời.
Chúng ta có thể tăng tỷ lệ này đến vô hạn. Sự hiện diện của mười người công chính có thể bảo toàn được một cộng đồng mười ngàn dân. Sự hiện diện của một trăm người công bình có thể bảo toàn được một cộng đồng gồm một trăm ngàn dân. Sự hiện diện của một ngàn người công bình có thể bảo toàn được một cộng đồng một triệu dân. Cần có bao nhiêu người công bình để bảo toàn một quốc gia lớn như Hoa Kỳ, với dân số ước tính hơn 300 triệu? Cần khoảng 300 ngàn người.
Những con số này rất có khả năng khơi gợi và liên tưởng. Liệu Kinh Thánh có cung cấp cơ sở, chẳng hạn như, chúng ta có thể tin rằng chỉ hơn một phần tư của một triệu người thực sự công chính, sống rải rác như những hạt muối trải khắp đất nước Hoa Kỳ, sẽ đủ để bảo toàn cả đất nước thoát khỏi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời và để đảm bảo sự liên tục của ân điển và lòng thương xót của Ngài? Sẽ thật ngớ ngẩn nếu tuyên bố rằng những ước tính như vậy là chính xác. Tuy nhiên, Kinh Thánh chắc chắn thiết lập một nguyên tắc chung, đó là sự hiện diện của những tín đồ công chính là yếu tố quyết định trong cách Đức Chúa Trời xử lý một cộng đồng.
Điều này dẫn chúng ta đến tác dụng thứ hai về sự hiện diện của Cơ Đốc nhân như là “muối của đất.”
Muối Ngăn Chặn Sự Hư Hoại
Vào thời kỳ khi người ta chưa thể làm lạnh nhân tạo, những thủy thủ khi đem theo thịt trong những chuyến hành trình dài, họ đã sử dụng muối như một chất bảo quản. Quá trình hư hoại đã xảy ra trước khi thịt được ướp muối. Ướp muối không giúp loại trừ được quá trình hư hoại đó, nhưng ướp muối giúp họ trong suốt chuyến hành trình của mình có thể kiểm soát được quá trình hư hoại, và vì vậy thịt vẫn có thể tiếp tục ăn được một thời gian rất lâu sau khi chúng lẽ ra đã không thể ăn được nữa nếu như không được ướp muối.
Là những môn đồ của Đấng Christ, sự hiện diện của chúng ta trên đất cũng hoạt động giống như sự hiện diện của muối trong thịt. Quá trình hư hoại của tội lỗi đã vận hành. Điều này được bày tỏ trong mọi lãnh vực của đời sống con người—đạo đức, tôn giáo, xã hội, chính trị. Chúng ta không thể xóa bỏ tình trạng hư hoại vốn đã hiện diện. Nhưng chúng ta có thể khiến cho tình trạng ấy ở trong sự kiểm soát cho đến khi những mục đích của ân điển và lòng thương xót của Đức Chúa Trời được hoàn tất trọn vẹn. Và rồi khi chúng ta không thể gây ảnh hưởng trên tình trạng ấy được nữa, lúc này sự hư hoại sẽ đạt đến đỉnh điểm của nó, kết quả là sự suy đồi toàn diện.
Muối có khả năng ngăn chặn sự hư hoại, minh họa này giải thích cho lời dạy của Phao-lô trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3–12. Phao-lô cảnh báo rằng sự gian ác của con người sẽ lên đến đỉnh điểm và bày tỏ nơi kẻ sẽ cai trị thế gian, là kẻ được chính Satan ban quyền lực và hướng dẫn một cách siêu nhiên. Phao-lô gọi kẻ thống trị này là “kẻ gian ác [hoặc kẻ làm điều trái với luật pháp]” và “con của sự hủy diệt” (câu 3). Trong I Giăng 2:18 hắn được gọi là “Kẻ chống Đấng Christ,” và trong Khải-huyền 13:4 hắn được gọi là “con thú.” Kẻ thống trị này cuối cùng sẽ tự xưng là Đức Chúa Trời và yêu cầu mọi người thờ phượng hắn.
Sự xuất hiện của kẻ cai trị thế gian là điều không thể tránh khỏi. Phao-lô nói một cách chắc chắn rằng “Bấy giờ kẻ gian ác sẽ xuất hiện” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8). Phao-lô cũng tuyên bố trong cùng câu Kinh Thánh này rằng chính Đấng Christ sẽ đưa ra sự phán xét cuối cùng đối với Christ giả này—“Đức Chúa Giê-xu sẽ giết chết nó bằng hơi thở [hoặc linh] của miệng Ngài, hủy diệt nó bằng hào quang khi Ngài quang lâm.”
Không may thay, một vài diễn giả đã sử dụng những dạy dỗ này về kẻ chống Đấng Christ để truyền cho Cơ Đốc nhân thái độ thụ động và tin theo thuyết định mệnh. Họ bảo rằng: “Kẻ chống Đấng Christ đang đến. Mọi thứ đang ngày càng trở nên tồi tệ. Chúng ta không làm gì được về việc này.” Kết quả là, Cơ Đốc nhân thường khoanh tay ngồi yên trong tinh thần ngoan đạo và nhìn xem sự tàn phá của Satan đang diễn ra một cách không kiểm soát xung quanh họ.
Thụ động và tin theo thuyết định mệnh, thái độ này thật là buồn thảm vì chúng không đúng với những dạy dỗ của Thánh Kinh. Đúng là cuối cùng kẻ chống Đấng Christ sẽ phải xuất hiện. Dầu vậy, thật sai lầm khi cho rằng chúng ta chẳng thể làm gì được đối với hắn.
Trở Lực
Cho đến thời điểm hiện tại, trên thế gian có một lực đang hành động, lực này thách thức, chống lại và ngăn trở linh của kẻ chống Đấng Christ.
Trở lực này hiện đang kiềm hãm sự xuất hiện trọn vẹn cuối cùng của kẻ chống Đấng Christ, trở lực đó chính là sự hiện diện cá nhân của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh. Điều này trở nên rõ ràng khi chúng ta theo dõi những khải thị của Kinh Thánh về Thân Vị và công tác của Đức Thánh Linh.
Ngay từ lúc mở đầu trong Sáng-thế Ký 1:2, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.” Kể từ lúc đó trở đi xuyên suốt Cựu Uớc có nhiều chỗ đề cập đến hoạt động của Đức Thánh Linh trên đất. Tuy nhiên, khi kết thúc chức vụ trên đất của mình, Chúa Giê-xu hứa với các môn đồ của Ngài rằng Đức Thánh Linh sẽ sớm đến cùng họ theo một cách mới mẻ, khác hoàn toàn so với bất kỳ điều gì từng xảy ra trên đất cho đến thời điểm đó.
Đấng Giúp Đỡ Đã Được Hứa Ban
Trong Giăng 14:16–17 Chúa Giê-xu ban lời hứa này:
“Ta sẽ cầu xin Cha, Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác để ở với các con đời đời, tức là Thần Chân Lý [một danh của Đức Thánh Linh], . . . vì Ngài đang ở với các con, và sẽ ở trong các con.”
Chúng ta có thể diễn giải lời hứa này của Chúa Giê-xu như sau: “Bằng sự hiện diện cá nhân, Ta đã ở với các con trong vòng ba năm rưỡi, và nay ta sắp rời xa các con. Sau khi Ta đi rồi, sẽ có một Đấng khác đến thế chỗ cho Ta. Đấng ấy là Đức Thánh Linh. Khi Ngài đến, Ngài sẽ ở với các con mãi mãi.”
Sự trao đổi mà Chúa Giê-xu hứa được thực hiện theo hai giai đoạn: trước hết, Chúa Giê-xu về thiên đàng; rồi mười ngày sau, Đức Thánh Linh giáng xuống vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Tại thời điểm này trong lịch sử, Đức Thánh Linh giáng xuống như là một Thân Vị từ trời và ngự trên đất. Ngài hiện nay là đại diện cá nhân của Đức Chúa Trời đến ngự trên đất. Nơi ngự thực sự của Ngài là thân thể của những tín đồ chân chính, tập hợp những thân thể ấy được gọi là “Hội Thánh”. Viết cho thân thể bao gồm những tín đồ này, Phao-lô nói trong I Cô-rinh-tô 3:16:
“Anh em không biết rằng anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em sao?”
Chức vụ lớn lao của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh là chuẩn bị một thân thể trọn vẹn cho Đấng Christ. Sau khi hoàn tất, thân thể này sẽ được trình cho Đấng Christ giống như cô dâu được đưa đến cho chàng rể. Ngay khi chức vụ này của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh hoàn tất, Ngài sẽ một lần nữa rời khỏi thế gian, và đem đi với Ngài thân thể trọn vẹn của Đấng Christ. Do đó, chúng ta có thể viết lại lời tuyên bố của Phao-lô trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2:7 như sau:
“Đức Thánh Linh, Đấng hiện nay đang khiến kẻ chống Đấng Christ ở trong vòng kiểm soát, Đấng ấy sẽ tiếp tục công việc của Ngài cho đến khi Ngài được cất đi.”
Linh của kẻ chống Đấng Christ ở trong thế gian, hoạt động nhằm mục tiêu khiến cho kẻ chống Đấng Christ xuất hiện. Đức Thánh Linh ở trong các môn đồ của Đấng Christ, ngăn trở sự xuất hiện của kẻ chống Đấng Christ. Vì vậy, những môn đồ có Đức Thánh Linh ngự bên trong mình sẽ giống như một hàng rào ngăn trở đỉnh điểm của sự vô luật pháp, ngăn trở sự xuất hiện cuối cùng của kẻ chống Đấng Christ. Chỉ khi Đức Thánh Linh được cất lên khỏi đất cùng với thân thể trọn vẹn của Đấng Christ - thân thể đó là các môn đồ của Ngài, chỉ khi đó, những thế lực vô luật pháp mới có thể hành động mà không có một sự ngăn trở nào để đạt đến đỉnh điểm những mục đích của chúng trong kẻ chống Đấng Christ. Trong khi đó, đặc ân và trách nhiệm của môn đồ Đấng Christ chính là dùng năng quyền Đức Thánh Linh ban cho để “đắc thắng” các thế lực của kẻ chống Đấng Christ và khiến chúng ở trong vòng kiểm soát.
Muối Làm Trọn Chức Năng Của Mình
Do đó, là muối của đất, chúng ta – những môn đồ Đấng Christ, có hai trách nhiệm chính. Trước hết, bằng sự hiện diện của mình, chúng ta trình dâng đất cho ân điển và lòng thương xót không ngừng của Đức Chúa Trời. Thứ hai, bởi năng quyền của Đức Thánh Linh hành động bên trong chúng ta, chúng ta giữ cho những thế lực hư hoại và vô luật pháp nằm trong sự kiểm soát cho đến thời điểm mà Đức Chúa Trời đã định.
Để hoàn tất những trách nhiệm này, Hội Thánh phải giống như một hàng rào ngăn trở Satan hoàn thành tham vọng tối cao của hắn, đó là giành quyền thống trị trên cả đất. Điều này giải thích lời của Phao-lô trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3: “Vì sự bội đạo phải đến trước, và con người gian ác [kẻ chống Đấng Christ], đứa con của sự hủy diệt, phải xuất hiện.” Sự bội đạo theo nghĩa đen, có nghĩa là sự rời bỏ đức tin.
Chừng nào Hội Thánh còn đứng vững và không thỏa hiệp trong đức tin của mình, chừng ấy Hội Thánh vẫn còn năng quyền để ngăn trở sự bày tỏ cuối cùng của kẻ chống Đấng Christ. Chính Satan hiểu rõ điều này, và vì vậy, mục tiêu chủ yếu của hắn là làm suy yếu đức tin và sự công chính của Hội Thánh. Một khi hắn đạt được điều này, hàng rào ngăn trở hắn thực hiện những mục đích của mình sẽ được dỡ bỏ, và lối đi mở ra để hắn đạt được sự kiểm soát cả về mặt thuộc linh lẫn chính trị trên cả đất.
Giả sử như Satan thành công, bởi vì chúng ta là những Cơ Đốc nhân đã thất bại trong việc hoàn thành trách nhiệm của mình. Vậy thì sẽ ra sao? Chính Chúa Giê-xu đã cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta trở nên “muối mất mặn.” Ngài cảnh báo chúng ta về số phận đang chờ đợi đối với loại muối bị mất mặn như thế: “Muối ấy trở nên vô dụng, phải ném bỏ đi và bị người ta chà đạp dưới chân.” (Ma-thi-ơ 5:13).
“Muối ấy trở nên vô dụng, phải ném bỏ đi và bị người ta chà đạp dưới chân.” (Ma-thi-ơ 5:13).
“Trở nên vô dụng” Đó quả là một lời kết án nghiêm trọng. Điều gì tiếp theo? Chúng ta bị “ném bỏ đi”—bị Đức Chúa Trời khước từ. Rồi thì chúng ta bị “người ta chà đạp dưới chân.” “Người ta” trở thành công cụ mà Đức Chúa Trời sử dụng để phán xét một Hội Thánh mất mặn và bội đạo. Nếu chúng ta ở trong Hội Thánh lại thất bại trong việc ngăn trở những thế lực gian ác, chính những thế lực đó sẽ phán xét chúng ta.
Phao-lô trình bày rõ ràng cho chúng ta hai lựa chọn trong Rô-ma 12:21:
“Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác.”
Chỉ có hai lựa chọn: hoặc để điều ác thắng mình, hoặc thắng điều ác. Không có lựa chọn nào ở giữa hai lựa chọn đó, không có con đường thứ ba dành cho chúng ta. Chúng ta có thể sử dụng điều thiện mà Đức Chúa Trời đã ban cho để thắng điều ác mà chúng ta đang đối diện. Nhưng nếu chúng ta thất bại không thể làm được điều này, thì chính điều ác ấy sẽ thắng chúng ta.
Sứ điệp này đặc biệt rất khẩn cấp đối với chúng ta, là những người đang sống tại nơi mà mình vẫn còn có thể công bố và thực hành đức tin Cơ Đốc một cách tự do. Ngày nay, tại nhiều nơi khác, Cơ Đốc nhân đã mất đi sự tự do này. Đồng thời, hàng triệu người ở những nơi đó đã bị truyền bá tư tưởng một cách có hệ thống để ghét bỏ và khinh bỉ Cơ Đốc Giáo cũng như tất cả những gì mà Cơ Đốc Giáo đại diện. Do đó, đối với những người đã được truyền bá tư tưởng như vậy, không có điều gì thỏa mãn họ hơn là việc được giày đạp dưới chân mình những Cơ Đốc-nhân, những người không ở dưới ách của họ.
Nếu chúng ta chú ý đến sự cảnh báo của Chúa Giê-xu và làm trọn chức năng của mình giống như muối của đất, chúng ta có năng quyền để ngăn trở điều này. Nếu chúng ta thất bại trong việc thi hành chức năng của mình và vì đó mà phải chịu sự phán xét, thì ý nghĩ cay đắng nhất sẽ là: Điều đó không bao giờ phải xảy ra.
Mã số: TL-L066-100-VIE